Tiểu vùng sông Mê Kông

Sông Mê Kông là con sông dài nhất ở Đông Nam Á và lớn thứ 12 trên thế giới (4.800 km) khởi nguồn từ cao nguyên Tây Tạng chảy theo hướng Bắc – Nam qua 6 nước Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Hằng năm, dung lượng nước sông Mê Kông là 475 tỷ m3, đứng thứ 8 thế giới và có hơn 100 con sông nhánh lớn nhỏ đổ vào dòng Mê Kông.

 
Tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS) bao gồm các nước Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam và hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc. Với tổng diện tích 2,3 triệu km2, đông dân cư (320 triệu người), đa sắc tộc và có các nền văn hoá rất phong phú, lưu vực sông Mê Kông giàu tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho sản xuất nông, lâm nghiệp. Tuy nhiên, nhìn chung đây còn là vùng nghèo, chậm phát triển ở Đông Nam Á và châu Á, cơ sở hạ tầng yếu kém, đã bị các cuộc chiến tranh kéo dài tàn phá nặng nề, ngay trong tiểu vùng cũng tồn tại sự cách biệt về trình độ phát triển giữa các địa phương.

Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, xu thế hợp tác, phát triển và hội nhập trở thành xu thế chủ đạo, thúc đẩy hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông. Liên kết, phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, nguồn nước là những “động lực” thôi thúc các nước trong lưu vực sông Mê Kông tìm kiếm cơ chế hợp tác song phương và đa phương. Trong bối cảnh đó, Chương trình hợp tác tiểu vùng Mê Kông mở rộng (Greater Mekong Subregion – GMS) được hình thành vào năm 1992 theo sáng kiến của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB). Ban đầu, GMS bao gồm các nước nằm trong lưu vực sông Mê Kông: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); năm 2004, thêm tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) tham gia vào hợp tác GMS.

 

 

 

 
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững, xoá đói giảm nghèo

Mục tiêu của GMS là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân lưu vực sông Mê Kông. Do vậy các nước trong lưu vực đã thoả thuận hợp tác phát triển hạ tầng giao thông, nông công nghiệp, năng lượng, viễn thông tạo thuận lợi cho thương mại, du lịch, đào tạo nguồn nhân lực…

 

- Từ năm 1992 đến 2006, tổng xuất khẩu của các nước GMS đã tăng 400% so với trước.
- Năm 2005, xuất khẩu nội tiểu vùng đã tăng 15 lần so với năm 1992. Đầu tư nước ngoài vào các nước GMS tăng từ 3 tỷ USD năm 1992 lên 7 tỷ USD năm 2006.
- Số lượng du khách hằng năm đến tiểu vùng tăng từ 10 triệu năm 1995 lên 22 triệu năm 2006.
- Mục tiêu của GMS là thúc đẩy tăng trưởng, phát triển bền vững, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân.
Trong đó, hợp tác phát triển hạ tầng giao thông được dành ưu tiên hàng đầu và đạt nhiều kết quả nổi bật nhất, tập trung vào 3 hành lang kinh tế chính. Hành lang kinh tế Đông – Tây (EWEC), dài 1450 km, bắt đầu từ thành phố cảng Mawlamyine (Myanmar) chạy qua Thái Lan và các tỉnh Savanakhet (Lào), Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng (Việt Nam). Đầu năm 2007, với việc hoàn thành cây cầu quốc tế thứ 2 qua sông Mê Kông, giao thông đường bộ của hành lang EWEC đã thông suốt và EWEC trở thành hành lang đi vào hoạt động đầu tiên trong tiểu vùng Mê Kông. Thứ hai là Hành lang kinh tế Bắc – Nam (NSEC), gồm 3 tuyến dọc theo trục Bắc – Nam là Côn Minh – Chiềng Rai – Băng Cốc, Côn Minh – Hà Nội – Hải Phòng và Nam Ninh – Hà Nội. Dự kiến hành lang NSEC sẽ hoàn thành vào năm 2010. Tiếp đến là Hành lang kinh tế phía Nam (SEC): gồm 3 tuyến đường nối phía Nam Thái Lan qua Campuchia với Việt Nam. Theo quy hoạch, hành lang phía Nam dự kiến đi vào hoạt động từ năm 2010 – 2012.

Năm 2007, GMS thông qua Chiến lược giao thông tiểu vùng Mê Kong 2006 -2015 điều chỉnh lại quy hoạch các hành lang kinh tế tiểu vùng thành 9 hành lang để mở các tuyến liên kết 3 hành lang chính trước đây; mở thêm các tuyến mới phía Tây liên kết tiểu vùng Mê Kông với Ấn Độ. Ngoài 3 cửa ngõ ra biển phía Đông hiện có là TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, quy hoạch còn mở thêm 2 cửa ngõ mới ở Việt Nam là Thanh Hoá và Quy Nhơn.

Nhìn chung hợp tác GMS tiến triển tương đối thuận lợi do các nước trong GMS tích cực thúc đẩy hợp tác; Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đóng vai trò tích cực trong điều phối, hỗ trợ kỹ thuật và tài trợ; các nhà tài trợ khác cũng quan tâm và tích cực tham gia. Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đang xem xét khả năng trở thành nhà đồng tài trợ cùng ADB trong hợp tác GMS. 

 

 

Đẩy mạnh quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và GMS 

 

Hợp tác kết nối hạ tầng giao thông  tiểu vùng sông Mê Kông là một trong những nội dung  trọng tâm của Hội nghị GMS 3 lần này
Hội nghị GMS3 tạiVientiane (Lào)lần này có chủ đề “Nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua tăng cường kết nối” thể hiện trọng tâm của các nước GMS là kết nối hạ tầng (giao thông, năng lượng, viễn thông…), coi đó là nền tảng để triển khai kết nối về nguồn lực, con người, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của từng nền kinh tế và của cả tiểu vùng.

Hội nghị sẽ tập trung thảo luận 6 nội dung chính: (1) Tăng cường kết nối giao thông; (2) Thuận lợi hoá thương mại và giao thông; (3) Hợp tác giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân để tăng cường thương mại và đầu tư GMS; (4) Đào tạo nguồn nhân lực để nâng cao khả năng cạnh tranh; (6) Hợp tác, phát triển GMS. Bên cạnh đó, Lãnh đạo các nước GMS sẽ đối thoại với Diễn đàn Thanh niên GMS; gặp gỡ thành viên Diễn đàn kinh doanh và đầu tư GMS…

Đoàn cấp cao Chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu tham dự Hội nghị GMS 3 nhằm tiếp tục khẳng định quyết tâm của Việt Nam tăng cường hợp tác và làm sâu sắc thêm hội nhập kinh tế tiểu vùng, thúc đẩy hợp tác, phát triển bền vững, phấn đấu từng bước cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các địa phương dọc các hành lang của GMS như Hành lang kinh tế  Đông – Tây, Hành lang kinh tế Bắc – Nam…

Bên cạnh các hoạt động đa phương, theo dự kiến, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ có các cuộc tiếp xúc song phương với các vị đồng nhiệm của một số nước GMS và một số đối tác của GMS để bàn biện pháp đẩy mạnh quan hệ giữa Việt Nam với các các, cũng như trao đổi ý kiến về một số vấn đề mà các bên cùng quan tâm./. 



Hit counter: 1251397